BẢN ÁN VỀ PHẠM TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Lừa đảo; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Minh H, đơn kháng cáo của các bị hại là chị Lưu Thị L, chị Vũ Thị Thanh Th và chị Phan Thị Ph, đơn kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lưu Thị Th1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Phạm Thị Thu H4, anh Nguyễn Tiến T và anh Trần Phúc L1 trong thời hạn luật định, đúngquy định tại các điều 331, 332,333của Bộ luật Tố tụng hình sự, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Minh H tự nguyện xin rút toàn bộ kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Thị Minh H. Quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Minh Hcó hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của các bị hại là Lưu Thị L, chị Vũ Thị Thanh Th và chị Phan Thị Phvề việc Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét khách quan, toàn diện vụ án, chưa làm rõ dòng tiền của những người liên quan, nhưng không nêu cụ thể việc các cơ quan tiến hành tố tụng đã bỏ sót dòng tiền liên quan đến đối tượng cụ thể nào. Thấy rằng, quá trình điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng đãlàm rõ phương thức, thủ đoạn, hành vi phạm tội của Trần Thị Minh H; xác định cụ thể số tiền bị cáo H chiếm đoạt của các bị hại; đã thu thập tài liệu, chứng cứ từ các ngân hàng nơi Trần Thị Minh H mở tài khoản; xác minh cụ thể số tiền H nhận chuyển khoản và số tiền H chuyển cho những chủ tài khoản kháctrong thời gian bị cáo phạm tội (từ 15/8/2022 đến 29/10/2022). Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã 2 lần trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung(ngày 08/5/2025 và ngày 15/9/2025), yêu cầu cơ quan điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, sao kê của các ngân hàng, xác minh, làm rõ các giao dịch giữa bị cáo Trần Thị Minh Hvới những người kháctrong thời gian bị cáo phạm tội; làm rõ mối liên quan của một số người trong vụ án; làm rõ việc mua bán USD giữa bị cáo và 02 cửa hàng vàng C,Hcó liên quan đến hoạt động rửa tiền không. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định về số tiền mà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ ánphải nộp lại do liên quan đến dòng tiền mà bị cáo Hđã phạm tội mà có. Như vậy, việc các bị hại cho rằng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không thu thập đầy đủ chứng cứ, chưa xem xétvụ án một cách toàn diện, khách quan là không có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về việc cần làm rõ hành vi vi phạm của chị Lưu Thị Th1 trong vụ án,tại Quyết định số 113/2025/HSST-QĐ ngày 15/9/2025 trả hồ sơ để điều tra bổ sung lần 2, Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội điều tra bổ sung, làm rõ vài trò của Lưu Thị Th1 trong vụ án; tiếp tục rà soát, làm rõ động cơ, mục đíchcác giao dịch của Trần Thị Minh H trong thời gian phạm tội. Tại Công văn số 311/VKS-P3 ngày 17/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã phúc đáp việc không có căn cứ xác định chị Lưu Thị Th1 là đồng phạm với bị cáo Trần Thị Minh H trong vụ án này; đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cũng xác định một lần nữa số tiền mà bị cáo H đã chiếm đoạt của chị Lưu Thị L, chị Vũ Thị Thanh Th và chị Phan Thị Ph; giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Thị Minh H. Như vậy, vai trò của chị Lưu Thị Th1 đã được các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm làm rõ. Nếu như, các bị hại có tài liệu,chứng cứ mới chứng minh chị Lưu Thị Th1 hoặc bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào khác có dấu hiệu đồng phạm với Trần Thị Minh H thì có quyền tiếp tục đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
5] Xét kháng cáo của chị Lưu Thị Th1 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị phải nộp lại số tiền 5.421.955.996 để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Minh Hlà không đúng. Thấy rằng, trong khoảng thời gianbị cáo Trần Thị Minh H phạm tội(từ ngày 15/8/2022 đến ngày 29/10/2022), bị cáo H thực hiện nhiều giao dịch với chị Lưu Thị Th1. Thông qua các tài khoản 42710000741220, 19027418754024, 250119878888 đều mang tên Lưu Thị Th1, bị cáo chuyển cho chị Th1 tổng số 19.292.355.996 đồng; cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định chị Th1 chuyển cho bị cáo H tổng số 13.870.400.000 đồng; từ đó xác địnhbị cáo chuyển cho chị Th1 nhiều hơn 5.421.955.996 đồng. Tuy nhiên, theo tài liệu sao kê tại Ngân hàng B mà chị Lưu Thị Th1 xuất trình ở giai đoạn phúc thẩm thì có khoản tiền 474.000.000 đồng chị Th1 chuyển vào tài khoản của bị cáo H ngày 06/9/2022 chưa được tổng hợp nên có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của chị Lưu Thị Th1, không buộc chị Th1 phải nộp khoản 474.000.000 đồng này. Đối với các khoản khác mà chị Th1 trình bày đã chuyển cho bị cáo H, nhưng không có căn cứ để xác định nên không được chấp nhận.
[6] Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị H2 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị nộp số tiền 6.094.100.000 đồng để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Minh H là không đúng. Theo chị H2 thì thời điểm bị cáo phạm tội (từ 15/8/2022 đến 29/10/2022),bị cáo H chuyển cho chị H2 4.362.500.000 đồng; chị H2 chuyển cho bị cáo H 2.159.500.000 đồng; chênh lệch là 2.203.000.000 đồng; đồng thời chị H2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận số tiền chị H2 chuyển cho bị cáo H bằng Giấy ủy nhiệm chi là 1.500.000.000 đồng.Thấy rằng, đối với các giao dịch chuyển tiền giữa bị cáo H và chị Nguyễn Thị H2, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, trong thời gian bị cáo H phạm tội, bị cáo đã chuyển cho chị H2 tổng số tiền là 4.392.300.000 đồng; chị H2 đã chuyển cho bị cáo số tiền là 2.159.500.000 đồng. Bên cạnh đó, theo tài liệu mà chị H2 xuất trình ở giai đoạn phúc thẩm thì chị H2 còn có tài khoản mở tại Ngân hàng V2 và trong thời gian bị cáo Hphạm tội, bị cáo đã chuyển cho chị H2 vào tài khoản này 227.000.000đồng chị H2 chuyển cho bị cáo H 100.000.000 đồng. Như vậy, số tiền chênh lệch mà chị H2 đã nhận của bị cáo Th1 trong thời gian bị cáo phạm tội là 2.359.800.000 đồng; cần buộc chị H2 phải nộp lại số tiền này; Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị H2 nộp lại 6.094.100.000 đồng là chưa chính xác, cần xác định lại. Đối với số tiền chị H2 chuyển cho bị cáo H bằng Giấy ủy nhiệm chi, thấy rằng Giấy ủy nhiệm chi được lập ngày 31/5/2022 (BL1049), không phải trong thời gian các cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo H phạm tội. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không xác định khoản tiền này có liên quan đến vụ án đang giải quyết là có cơ sở.
[7] Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị H3 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị nộp số tiền 555.554.000 đồng để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Minh Hlà không đúng. Chị H3 cho rằng tiền bị cáo Hchuyển cho chị là tiền chị góp vốn để kinh doanh bất động sản. Do bị cáo H không thực hiện đúng thời hạn như thỏa thuận nên chị rút lại tiền. Bên cạnh đó khoản tiền bị cáo Hchuyển trả cho chuyến du lịch của gia đình H ở Sa Pa,tiền bị cáo H chi trả một số hoạt động của lớp 8A4 Trường THCS C và tiền bị cáo H nhờ chị đóng học phícho con của bị cáo H, chị H3 không phải chịu trách nhiệm. Thấy rằng, tài liệu sao kê và nội dung các tin nhắn điện thoại do chị H3xuất trình ở giai đoạn phúc thẩm thể hiện trong số các khoản tiền bị cáo H chuyển cho chị H3 trong thời gian bị cáo phạm tội, có 50.000.000 đồngchuyển ngày 27/8/2022 là tiền chi trả cho chuyến du lịch của H ở Sa Pa; 9.000.000 đồng chuyển ngày 18/10/2022là tiền bị cáo H chi trả cho một số hoạt động của lớp học cũ; 1.100.000 đồng chuyển ngày 16/9/2022 và 1.250.000 đồng chuyển ngày 08/10/2022là tiền đóng học phí cho con của H. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị H3 không buộc chị H3 phải nộp lại số tiền này. Đối với những giao dịch khác mà chị H3cho rằng là tiền chị góp vốn để kinh doanh bất động sản và bị cáo H không thực hiện đúng như thỏa thuận nên trả lại, Hội đồng xét xử xét thấyvề các khoản vay nợ, góp vốn giữabị cáo và những người có quyền lợi liên quan trước khi bị cáo H phạm tội (nếu có), Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định là giao dịch dân sự và dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác cho các đương sự nếu có tài liệu, chứng cứ chứng minh; các khoản tiền mà những người liên quan được Hchuyển trong thời gian bị cáo phạm tội được xác định là trực tiếp liên quan đến dòng tiền do phạm tội mà có nên phải thu hồi để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo đối với các bị hại. Bởi vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị H3 về việc không buộc chị phải nộp số tiền mà bị cáo H chuyển trả chị do trước đó chị đã góp vốn kinh doanh bất động sản với bị cáo.
[8] Xét kháng cáo của chị Phạm Thị Thu H4 không đồng ý với nội dung Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị phải nộp lại số tiền 1.911.000.000 đồng để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo. Chị H4 trình bày, trong thời gian từ ngày 04/6/2020đến ngày 22/10/2022, chị đã nhận của bị cáo H6.596.000.000 đồng và đã chuyển cho bị cáo H 12.163.450.000 đồng. Chị H4 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo Trần Thị Minh H phải trả lại cho chị số tiền 5.567.450.000 đồng. Thấy rằng, các khoản tiền được xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Minh H là các khoản tiền giao dịch trong khoảng thời gian từ 15/8/2022 đến 29/10/2022. Theo tài liệu mà chị H4 xuất trình cho Hội đồng xét xử ở giai đoạn xét xử phúc thẩm thì có 18 khoản (gần8,5 tỷ đồng) chị chuyển cho bị cáo H không nằm trong khoảng thời gian này; có 4 khoản không có căn cứ để xác nhận người được chị H4 chuyển tiền là bị cáo Trần Thị Minh H.Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị Thu H4.
[9] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Tiến T đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bỏ quyết định buộc anh phải nộp số tiền 1.999.999.996 đồng để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo H; hủy bỏ việc ngăn chặn giao dịch với tài khoản số 19026257708055 mở tại Ngân hàng T. Anh T cho rằng anh không quen biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo H; số tiền anh nhận được từ tài khoản của bị cáo H là do anh đổi tài khoản với anh Đào Tiến H5. Tuy nhiên, tại BL1205của hồ sơ vụ án, anh Nguyễn Tiến T thừa nhận các tài khoản mở tại Ngân hàng B và Ngân hàng T; thừa nhận đã nhận 2 tỷ đồng từ tài khoản đứng tên Trần Thị Minh H và trình bày không nhớ cụ thể vì lý do gì mà nhận được tiền. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh Nguyễn Tiến T nộp lại sốtiền 1.999.999.996 đồng (theo kết quả sao kê) để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại của bị cáo Trần Thị Minh H, đồng thời ngăn chặn giao dịch với tài khoản số 19026257708055 mở tại Ngân hàng Tlà có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Tiến T.
[10] Xét kháng cáo của anh Trần Phúc L1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm buộc anh phải nộp lại số tiền 8.570.340.001 đồng để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo H. Anh L1 cho rằng tổng số tiền anh chuyển cho bị cáo H nhiều hơn tổng số tiền mà anh nhận từ bị cáo; việc trong giai đoạn từ 15/8/2022 đến 29/10/2022 anh nhận số tiền lớn hơn là do bị cáo hoàn trả lại các khoản tiền anh L1 đã chuyển cho bị cáo trước đó, không phải tiền anh được hưởng từ hành vi phạm tội của bị cáo.Thấy rằng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện trong khoảng thời gian trên, bị cáo H thực hiện nhiều giao dịch với anh Trần Phúc L1. Thông qua các tài khoản 19034582716016, 16810000282882, 60095015850 mang tên Trần Phúc L1, bị cáo chuyển khoản cho anh L1tổng số 12.454.459.997đồng;anh L1chuyển cho bị cáo 3.884.119.996đồng. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền bị cáo Hchuyển cho anh L1nhiều hơn số tiền anh L1chuyển cho bị cáo là 8.570.340.001 đồngvà buộc anh L1phải nộp lại số tiền này (do liên quan đến dòng tiềnbị cáo H phạm tội mà có) để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường của bị cáo đối với các bị hại là có cơ sở.Về việc anh L1 cho rằng nhiều khoản tiền bị cáo H chuyển cho anh là do bị cáo hoàn trả lại các khoản tiền anh L1 đã chuyển cho bị cáo trước đó (trước thời gian bị cáo phạm tội), Hội đồng xét xử xét thấycác giao dịch giữa bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước thời điểm bị cáo phạm tộiđã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định là các giao dịch dân sự, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[11] Từ những phân tích nêu trên, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị hại là chị Lưu Thị L, chị Vũ Thị Thanh Th, chị Phan Thị Ph, kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị Thu H4, anh Nguyễn Tiến T và anh Trần Phúc L1; có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lưu Thị Th1, chị Nguyễn Thị H3 và chị Nguyễn Thị H2 như các nhận định trên đây.
[15] Về án phí, căn cứ Nghị quyếtsố326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội "Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án", bị cáo Trần Thị Minh H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm; chị Lưu Thị L, chị Vũ Thị Thanh Th, chị Phan Thị Ph, chị Phạm Thị Thu H4, anh Nguyễn Tiến T và anh Trần Phúc L1phải nộp án phí dân sự phúc thẩm; chị Lưu Thị Th1, chị Nguyễn Thị H3 và chị Nguyễn Thị H2 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Nội dung được trích từ Bản án số: 486/2026/HS-PT do Tòa án nhân dân tối cao - Hà Nội tuyên ngày 30/6/2026. Bản án đầy đủ ở link kèm theo: